54 Dân tộc - Danh mục các dân tộc - Mnông

Dân tộc Mnông

Tên tự gọi: Mnông.

Nhóm địa phương: Mnông Gar, Mnông Nông, Mnông Chil, Mnông Kuênh, Mnông Rlâm, Mnông Preh, Mnông Prâng, Mnông Ðíp, Mnông Bhiêt, Mnông Sitô, Mnông Bu Ðâng, Mnông Bu Nor, Mnông

Dân số: 92.451 người (Tổng cục Thống kê năm 2009).

Ngôn ngữ và chữ viết: Tiếng nói thuộc nhóm ngôn ngữ Môn - Khơ Me (ngữ hệ Nam Á). Người Mnông mới có chữ viết.

Nguồn gốc lịch sử: Người Mnông là cư dân sinh tụ lâu đời ở miền trung Tây Nguyên nước ta.

Địa bàn cư trú: Tập trung chủ yếu ở các tỉnh Đắk Lắk, Đắc Nông, Bình Dương, Lâm Đồng và Bình Phước.

Đặc điểm kinh tế: Người Mnông trồng lúa nương trên rẫy bằng phương pháp "đao canh hoả chủng": phát, đốt rồi chọc lỗ tra hạt; thu hoạch theo lối tuốt lúa bằng tay. Họ trồng lúa nước bằng phương pháp "đao canh thuỷ nậu" trên những vùng đầm lầy, dùng trâu để quần ruộng cho nhão đất rồi gieo hạt, không cấy mạ như ở đồng bằng.

Phong tục tập quán:

Ăn: Họ ăn cơm gạo tẻ nấu trong những nồi đất nung, xa xưa thì phổ biến là cơm lam (gạo nếp nấu trong ống nứa). Bữa ăn trưa ở trên ruộng rẫy thường là món cháo chua đựng trong những trái bầu khô. Thức ăn chủ yếu là muối ớt, canh rau rừng, thịt chim, thú và cá suối bắt được. Thức uống phổ biến là rượu cần.

Ở: Có nhóm ở nhà sàn cao, có nhóm ở nhà sàn thấp, sát đất, chỉ cách mặt đất khoảng 60 - 70cm. Cửa ra vào có kiến trúc vòm như tổ tò vò. 

Phương tiện vận chuyển: Chủ yếu là gùi. Một số nơi dùng voi để vận chuyển. Nơi có sông, hồ, đồng bào dùng thuyền độc mộc.

Hôn nhân: Phụ nữ thường chủ động hơn trong việc hôn nhân. Lễ cưới do 2 bên cùng tổ chức. Sau hôn nhân phổ biến là cư trú phía nhà gái. Con sinh ra đều mang họ mẹ. Luật tục Mnông phạt vạ rất nghiêm khắc với tội loạn luân và ngoại tình.

Tang ma: Khi có người chết, cả làng nghỉ việc đồng áng để cùng lo mai táng, ma chay. Thổ táng là hình thức duy nhất trong việc tang ma, không có tập quán cải táng.

Trang phục: Về mùa nóng, đàn ông thường đóng khố ở trần; còn đàn bà thì quấn váy tấm và cũng ở trần. Về mùa lạnh, họ khoác thêm trên mình một tấm mền, kiểu phục sức rất phổ biến ở Trường Sơn - Tây Nguyên. Hiện nay trong trang phục Mnông đã tiếp thu nhiều yếu tố Việt.

Đời sống văn hóa: Kho tàng truyện cổ, đặc biệt là sử thi, tục ngữ, ca dao, dân ca rất phong phú. Nhạc cụ có cồng chiêng, kèn bầu, kèn sừng trâu, kèn môi, đàn độc huyền, đàn 8 dây, sáo dọc. Ðặc biệt là vỏ trái bầu khô được sử dụng một cách phổ biến để tạo nên bộ phận khuếch đại âm thanh trong nhiều nhạc cụ bằng tre, nứa.

Trung Hải

© Cơ quan chủ quản: Ban Quản lý Làng Văn hóa - Du lịch các dân tộc Việt Nam
Địa chỉ: Số 1 Hoa Lư, Hai Bà Trưng, Hà Nội. 
Ghi rõ nguồn vinaculto.vn khi phát hành lại thông tin từ Website này.